Bài mới trên BÁO TỔ QUỐC

Mặt Trận Quốc Dân Đảng một kết hợp chính trị giai đoạn 1945-1946

Mặt Trận Quốc Dân Đảng hay Quốc Dân Đảng Việt Nam là một kết hợp chính trị giữa ba chính đảng quốc gia năm 1945 là Đại Việt Quốc Dân Đảng của Trương Tử Anh, Đại Việt Dân Chính Đảng của Nguyễn Tường Tam, và Việt Nam Quốc Dân Đảng của Vũ Hồng Khanh, nhằm chống lại chế độ bạo tàn của Việt Minh Cộng Sản giai đoạn 1945-46, mà sáng kiến song phương là do Đại Việt Quốc Dân Đảng và VNQDĐ Hải Ngoại Bộ đề ra. Nhưng trước khi nói về sự kết hợp chính trị này thiết tưởng cần nói về vai trò lịch sử của Trương Tử Anh và Đại Việt Quốc Dân Đảng. 1.- Trương Tử Anh trong bối cảnh lịch sử và Đại Việt Quốc Dân Đảng Trương Tử Anh tên thật Trương Khán, bí danh Phương thường gọi là Cả Phương hay Cả Khán, sinh năm Giáp Dần 1914 tại làng Mỹ-Thạnh, xã Hoà-Phong, quận Tuy-Hoà, tỉnh Phú-Yên, con cụ ông Trương Bội Hoàng và cụ bà Nguyễn Thị Miên. Tổ tiên Trương Tử Anh cũng theo đòi khoa bảng, với nội tổ là cụ Trương Chính Đường có chức Đề-đốc vì ứng nghĩa Cần Vương năm 1885.

Cụ có công trong việc lập nên Hội Văn-phổ Phú-Yên, dựng Văn-chỉ ở núi Nhạn Tháp, xây Văn-Miếu ở núi Cẩm Sơn, xã Hoà Quang, Tuy Hoà. Ông nội của Trương Tử Anh là cụ Trương Dụng Triều cũng là một nhà nho có ít nhiều công lao xây dựng, kiến thiết xóm làng. Thân sinh của Trương Tử Anh là cụ Trương Bội Hoàng, là một nhà nho có tân học, kết giao với các nhà cách mạng Việt Nam.

Thuở nhỏ Trương Tử Anh học Tiểu học ở Trường Phủ tại Thị xã Tuy Hoà, học Trung học tại Quy Nhơn và Huế, đến năm 1934 theo học Luật khoa tại Trường Đại Học Đông Dương, Hà Nội. Năm 1936, nghiên cứu các triết thuyết và thảo luận quan điểm đấu tranh với các bạn bè, ông đưa ra một chủ nghĩa mới gọi là chủ nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn mà “lập luận căn bản dựa trên tinh thần dân tộc” [1] với bản thảo viết bằng tiếng Pháp. Trong những trang bút tích còn để lại, Trương Tử Anh đã nhận xét rằng: “Mỗi nước trên thế giới đều có một hay nhiều dân tộc khác nhau. Một chủ nghĩa chính trị muốn được thành công tất phải căn cứ vào những yếu tố kể trên mới mong được dân chúng ủng hộ và có thể đem ra áp dụng được…” và ông khẳng định: “…Các chủ nghĩa đã xuất hiện trên thế giới đều không thích hợp với dân tộc ta” [2]. Các chủ nghĩa mà Trương Tử Anh nêu ra đó là chủ thuyết Cộng Sản và chủ nghĩa Quốc Xã, là những lý thuyết rất thịnh hành lúc bấy giờ.

Ngày 10-12-1938, ông công bố chủ nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn và năm sau, 1939 đưa ra bản Tuyên Cáo Quốc Dân thành lập Đại Việt Quốc Dân Đảng. Trong bản Tuyên Cáo đó, Trương Tử Anh giải thích rằng: “Hai tiếng Đại Việt nêu cao ý chí tự cường, tự lập và cái hùng tâm muốn cho quốc gia mạnh mẽ lên và bành trướng mãi ra. Ba chữ Quốc Dân Đảng tỏ rằng Đảng này không phải của riêng giới nào, mà là của toàn thể dân tộc”[3].

Được thành lập do nghị định số 1514a của Toàn quyền Paul Beau (1902-1908) ký ngày 16.5.1906, trường Đại học Đông Dương ra đời quy tụ hầu hết sinh viên ba kỳ kể cả Cao-Miên và Lào nhằm lôi kéo thành phần trí thức trẻ vào các môi trường giáo dục của người Pháp. Về sau Toàn quyền Klobukowsky ký lệnh bãi bỏ rồi lại được Toàn Quyền Albert Sarraut cho phép mở lại vào năm 1918. Đây là môi trường văn hoá đồng thời cũng là môi trường chính trị thuận lợi cho các tổ chức đấu tranh, và Trương Tử Anh đã tận dụng thời điểm để tuyên truyền, vận động cho tổ chức của mình.

Cơ cấu Trung Ương đầu tiên gồm các ông: Trương Tử Anh, Nguyễn Tiến Hỷ, Nguyễn Sĩ Dinh, Phạm Cảnh Hoàn, Trương Bá Hoành, Đặng Vũ Trứ, Nguyễn Sơn Hải, Tạ Thành Châm, Phan Bá Trọng, Nguyễn Tôn Hoàn, Nguyễn Định Quốc, Võ Văn Hải, và một số cán bộ VNQDĐ là Nguyễn Văn Viễn, Đặng Xuân Tiếp, Giáo Lai, BS San.

Đảng kỳ là nền đỏ giữa có vòng tròn xanh nằm trong là ngôi sao trắng. Đây là đảng kỳ do chính Trương Tử Anh vẽ ra, được treo tại trụ sở Tỉnh bộ ĐVQDĐ Phú Yên (được coi như Tổ đình của Đại Việt) và sử dụng cho toàn đảng Đại Việt từ năm 1939 đến về sau.

Đảng ca là bài Cờ sao trắng.

Một cuốn sách nhỏ thứ hai dành riêng cho đảng viên chỉ dẫn về cách tổ chức và phương pháp sinh hoạt của Đảng với đơn vị căn bản là Chi bộ rồi lên đến Khu bộ và cao hơn hết là Trung ương Đảng. Phép tổ chức là của một đảng cách mạng bí mật, nguyên tắc phân cách các đơn vị được ghi chú cẩn thận. Chức vụ lãnh đạo cơ sở hạ tầng được luân phiên trao cho các đảng viên để mọi người trở nên thành thạo với đảng vụ. Kỷ luật đảng trong thời đó rất cứng rắn, chấp nhận cả hình phạt tối đa là tử hình đối với những phần tử phản quốc và phản đảng.

Chẳng bao lâu, cơ sở của Đại Việt Quốc Dân Đảng bành trướng nhiều nơi trong nước nhờ vào thành phần trí thức, sinh viên theo học ở Hà Nội gồm trên ba miền Bắc, Trung, Nam kể cả Lào và Căm-pu-chia với các tổ chức trại hè, lửa trại, diễn thuyết, tổ chức các cuộc lễ mang tính lịch sử như Lễ giổ tổ Hùng Vương, kỷ niệm Hai Bà Trưng, Lê Lợi, Quang Trung v.v., mục đích nhằm chống lại phong trào thể thao Ducouroy do thực dân Pháp tài trợ và khuyến khích để lôi cuốn thanh niên.

Một chứng nhân lịch sử, Đặng Văn Sung (1916? -1998) nhà báo, cựu nghị sĩ VNCH, hoạt động cùng thời với Trương Tử Anh tại Hà Nội năm 1943 cho biết: “Lý thuyết Đảng hồi đó tôi được đọc qua một tập nhỏ lớn cỡ quyển lịch gập đôi lại, dày đâu mươi trang. Cái quan trọng nhất là không Mác-xít. Tôi tuyên thệ với Trương Tử Anh và chỉ biết thêm một đảng viên khác là ông Hướng, người giới thiệu tôi. Tôi chưa dự một sinh hoạt đảng nào theo kiểu họp hành có bí thư chi bộ, tỉnh bộ, có báo cáo kiểm điểm công tác…”[4].

Nói về phong thái bề ngoài của Trương Tử Anh, Đặng Văn Sung cho biết như sau: “Đó là một người tầm thước, chắc chắn, nước da ngăm đen, biết mình nói gì và quan trọng hơn cả là biết nghe, nhất là những lời phê bình hợp lý”[5].

Trong hồi ức Việt Nam, một thế kỷ qua, Bác sĩ Nguyễn Tường Bách là em út của nhà văn Nguyễn Tường Tam vốn là những người từng hoạt động với Trương Tử Anh, đã ghi lại hình ảnh về Đảng trưởng Đại Việt như sau: “Anh Trương Tử Anh là người có vóc dáng trung bình, khuôn mặt vuông, rắn chắc, đôi mắt đầy vẻ nghị lực và tự tin. Anh nói không nhiều nhưng mỗi câu đều chắc nịch, có sức thuyết phục… Phát triển nhiều trong trường đại học. Tại trường thuốc có anh Nguyễn Sĩ Dinh cùng lớp với tôi, và mấy anh dưới một lớp như Nguyễn Tiến Hỹ tự Phan Trâm, Nguyễn Tôn Hoàn, Đặng Văn Sung… Ngoài ra còn có anh Bùi Diễm…”[6].

Với cuốn hồi ký chính trị Gọng kìm lịch sử, tác giả Bùi Diễm cho biết cuộc gặp gỡ lần đầu của ông với Đảng Trưởng Trương Tử Anh đã để lại dấu ấn khó phai nhạt trong ký ức của mình: “Cuối năm 1944 và bước sang 1945, sau một thời gian hoạt động trong tiểu tổ của đảng Đại Việt, tôi bắt đầu cảm thấy là phạm vi hoạt động chật hẹp quá, ngoài ra tôi còn thấy nhiều người nói tới ông Trương Tử Anh, đảng trưởng Đại Việt, một người mà các đồng chí vẫn thường kính cẩn gọi là Anh Cả Phương. Từ đó một ý kiến nẩy ra trong đầu tôi là phải cố gắng gặp ông cho kỳ được. Lúc đầu tiên thì thật là khó khăn. Hỏi ai thì câu trả lời cũng là: “Không được đâu! Phải qua hệ thống chứ!” Một đôi khi vì nôn nóng muốn được gặp ông, tôi bắt đầu tự hỏi rồi đây nếu không được gặp, thì liệu có còn đủ tin tưởng tiếp tục hoạt động không? Nhưng rồi không bao lâu sau, do một sự tình cờ, ngẫu nhiên tôi được toại nguyện và từ đó có duyên may làm việc gần ông trong suốt thời gian trước khi ông bị mất tích cuối năm 1946.

Một hôm tôi đến chơi nhà một người bạn cũ cùng học trường Bưởi, ban Toán năm Tú Tài phần hai. Tên anh là Phúc, ở trường chúng tôi thường gọi anh là Phúc Toét. Tuy không biết chắc, tôi vẫn ngờ ngợ anh cũng là người trong đảng. Nên nhân dịp trên đường về nhà, tôi ghé qua thăm anh. Khi tới, thì tôi không còn nghi ngờ gì nữa, vì thấy hai người bạn khác mà tôi biết đích là đảng viên, cùng ngồi họp ở phòng bên trong với một người đã đứng tuổi, dong dỏng cao, trán hói, mắt sáng. Phúc chạy ra và bảo tôi lúc khác trở lại. Tôi hỏi ai đó, thì Phúc một phần vì biết tôi đã lâu và một phần khác có lẽ cũng buột miệng nên trả lời rằng: “Anh Cả Phương đấy chứ ai!” Thế là tôi khựng lại, nhất định không chịu đi nữa. Và Phúc cũng phải chịu, không đẩy tôi đi được. Trái với sự tưởng tượng trong đầu óc tôi, ông Trương Tử Anh trong buổi gặp mặt ban đầu không có dáng nghiêm nghị, lạnh lùng của một lãnh tụ. Ông tỏ ra dễ dãi, cởi mở và thân mật. Ông mỉm cười và tôi nhìn thấy qua ánh mắt tinh anh của ông, có sức gì thu hút khiến tôi cảm thấy ông là người tôi có thể tin tưởng và theo được. Ông hỏi tôi là đã thấu hiểu được lý thuyết Dân Tộc Sinh Tồn của đảng chưa, và khuyên tôi nên hỏi Phúc nếu còn điều gì chưa hiểu. Lúc đó tôi còn trẻ, lại thêm tính hiếu thắng, nên ông chưa nói hết, tôi thưa lại ngay: “Phúc cùng học với tôi, về môn triết học hắn còn thua tôi thì còn giúp gì được tôi!” Không hiểu ông Trương Tử Anh nghĩ gì về phản ứng bất ngờ và ngây ngô của tôi, nhưng ông phì cười rồi bảo tôi: “Thôi được rồi, tôi sẽ gặp anh sau”. Tôi ra về, mừng quá, rồi như qua một thứ trực giác nào đó, tôi nghĩ là đã tìm được người gửi gắm niềm tin tưởng của tuổi trẻ”[7].

Ngày 4-10-1941 Trương Tử Anh bị Pháp bắt, đày lên Hoà Bình đến tháng 7 năm 1942 mới được thả ra nhưng bị chuyển về Phú Yên quản chế. Tại đây Trương Tử Anh đã trực tiếp lãnh đạo 20.000 nông dân Phú Yên, cùng với Tỉnh bộ Đại Việt QDĐ chống lại tập đoàn tư bản Pháp – Hoà Lan trong Công Ty Đường (Société Sucrière d’Annam) vì họ sang đoạt đất đai của nông dân để trồng mía. Đầu năm 1943, ông trốn ra Bắc và hoạt động trở lại, bị Pháp bắt giam rất nghiêm ngặt nhưng cơ sở đảng đã tổ chức giải thoát cho ông: bị tra tấn đến thọ bệnh nên ông phải giả điên để được đưa tới chữa tại nhà thương Cống Vọng gần Hà nội (bệnh viện René Robin). Ngày 2-9-1944 ông trốn khỏi nhà thương này cho đến sau ngày Nhật đảo chánh Pháp ông mới xuất hiện trở lại.

Từ sau cuộc diện kiến bất ngờ nói trên, tác giả Bùi Diễm cho biết ông có dịp may làm việc với Đảng Trưởng trong nhiều công tác. Trương Tử Anh lúc bấy giờ lo tổ chức một số căn cứ như ở Bắc Giang và Thanh Hoá nên điều động ông Bùi Diễm vào Thanh Hoá để tăng cường cho cơ sở vùng này nhưng sau đó lại thay đổi ý kiến và đưa ông vào Huế liên lạc với cụ Trần Trọng Kim, về sau lại đưa ông Bùi làm liên lạc viên với Phan Kế Toại đang được cử làm Khâm sai tại miền Bắc. Tác giả Gọng kìm lịch sử cho biết cảm tưởng của mình đối với Trương Tử Anh: “Càng được dịp làm việc gần ông, tôi càng khâm phục ông là người có đảm lược. Về cá nhân ông, người ta chỉ biết ông sinh trưởng ở miền Trung và đã tham gia cách mạng từ lúc còn trẻ, tuy nhiên ai cũng cảm thấy ông là người có khí phách và bản lãnh. Với một vẻ mặt trầm tĩnh và quắc thước, ông là một nhà lãnh đạo thông minh, tự tin là có khả năng góp phần vào việc xây dựng lại đất nước”[8].

Ngày 22-2-1945, Trương Tử Anh cử hai đảng viên cao cấp là Nguyễn Sĩ Dinh và Phạm Cảnh Hoàn tức Phạm Hy Tống (hay Phạm Nguyên Cảnh) kết hợp với Nguyễn Tường Long (Đại Việt Dân Chính Đảng), Nguyễn Xuân Tiếu (Đại Việt Quốc Xã Đảng), Lý Đông A tức Nguyễn Hữu Thanh (Đại Việt Duy Dân Đảng), cùng nhóm Ngô Thúc Địch, Nhượng Tống, Nguyễn Ngọc Sơn, Nguyễn Thế Nghiệp thuộc Tân Việt Nam Quốc Dân Đảng để thành lập một mặt trận chính trị đặt tên là Đại Việt Quốc Gia Liên Minh, cử Nguyễn Xuân Tiếu tức Nguyễn Lý Cao Kha, tức Tiếu Rùa làm Chủ Tịch liên minh này. Về sau Nguyễn Xuân Tiếu có ý đi với Nhật nên Đại Việt Quốc Dân Đảng rút ra khỏi mặt trận này vì sợ mang tiếng là người của Nhật.

Sau ngày Nhật đảo chính Pháp tại Đông Dương (9-3-1945) và nhất là sau khi Việt Minh cướp chính quyền (19-8-1945) và ra tay tiêu diệt các thành phần chống đối điển hình nhất là các chính đảng quốc gia, Việt Nam Quốc Dân Đảng, Đại Việt Quốc Dân Đảng và Đại Việt Dân Chính Đảng đã kết hợp với nhau để chống lại Việt Minh, tuy nhiên thời gian trước đó cũng đã có những nỗ lực tìm đến với nhau.

2.- Các sáng kiến tiên khởi và sự hình thành một kết hợp chính trị mới

Mặt Trận Quốc Dân Đảng hay Quốc Dân Đảng Việt Nam là một kết hợp chính trị giữa ba chính đảng lớn là Đại Việt Quốc Dân Đảng, Việt Nam Quốc Dân Đảng và Đại Việt Dân Chính Đảng giai đoạn 1945-1946 tại Hà Nội nhằm chống lại Đảng Cộng Sản Việt Nam vừa mới cướp được chính quyền ngày 19-8-1945. Đây là một biến cố chính trị lớn lao của người Việt quốc gia yêu nước nhưng rất ít tư liệu đề cập đến, nhắc nhở tới mặc dù máu của các đảng viên, cán bộ chính đảng quốc gia đổ xuống cùng với sự hy sinh của biết bao đồng chí, đảng viên qua các cuộc càn quét dã man của Cộng Sản.

Trong tác phẩm Hồ Chí Minh tại Trung Quốc, Tưởng Vĩnh Kính có viết: “Tỉnh Vân-nam (cũng gọi là tỉnh Điền) giáp ranh giới Bắc-Việt, có đường xe lửa chạy từ Côn-minh qua Hà-nội, xuống đến Hải-phòng, do người Pháp xây với mục đích kinh doanh. Từ nội địa Vân-nam, các trạm dọc theo con đường từ Hà-khẩu đến Côn-minh, có rất nhiều công nhân người Việt, và cũng là nơi tập trung của kiều dân Việt-nam. Trên con đường nối liền các thành phố lớn như Côn-minh, Nghi-lương, Khai-viễn, Mông-tự, Chỉ-thôn v.v…, từ năm 1938 về trước, đã có những tổ chức chi bộ của cả Việt-cộng lẫn Việt Nam Quốc Dân Đảng; và họ đã xung đột với nhau liên miên. Trong thời kì còn theo đuổi “mặt trận dân chủ”, các đảng viên Việt-cộng, một mặt nguỵ trang làm người của Việt Nam Quốc Dân Đảng để núp bóng, một mặt lại âm thầm móc nối để bán các đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng cho lãnh sự quán Pháp tại Côn-minh” [9]. Trong thời kỳ Thế chiến II (1939-45), một cán bộ VNQDĐ là Chu Bá Phượng làm việc tại Công ti Hỏa xa Vân Nam là cơ sở liên lạc giữa cách mạng VN ở trong và ngoài nước đã tiếp xúc với Đại Việt Quốc Dân Đảng và sự liên lạc đó được tăng cường nhiều vào năm 1943. Lúc bấy giờ ĐVQDĐ cử Võ Văn Hải vượt biên giới sang Trung Quốc sau đó trở về báo cáo tình hình VNQDĐ Hải Ngoại Bộ. Cũng thời gian đó Lê Ninh tức Lê Khang thuộc VNQDĐ Hải Ngoại Bộ cũng về nước đưa cán bộ cách mạng ra nước ngoài.

Ngày 12-4-1945, Nguyễn Tiến Hỷ cầm đầu một phái đoàn gồm có Nguyễn Sơn Hải, Nguyễn Định Quốc, Nguyễn Sĩ Dinh, Phạm Cảnh Hoàn, Phan Bá Trọng, Đặng Vũ Trứ bí mật vượt biên giới Hồ kiều sang Côn Minh. Phái đoàn còn có một số cán bộ của Đại Việt Dân Chính và một số của VNQDĐ. Qua sự can thiệp của Trung Ương Đảng Bộ Trung Quốc Quốc Dân Đảng, đoàn đại biểu từ Hà Khẩu đã tới được Côn Minh cách dễ dàng. Tại đây, đoàn kết hợp với một số cán bộ trung ương của VNQDĐ Hải Ngoại bộ gồm các ông Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Tường Tam, Lê Khang, Nghiêm Kế Tổ lên Trùng Khánh tiếp xúc với Bí thư trưởng TQQDĐ Ngô Thiết Thành và sau đó được Thống chế Tưởng Giới Thạch tiếp kiến, được hứa trang bị quân sự và giới thiệu đoàn Việt Nam sang dự Hội nghị San Francisco vào cuối năm 1945 thành lập Liên Hiệp Quốc.

Tại Trùng Khánh, mục đích của phái đoàn ĐVQDĐ là đề nghị một công tác rất quan trọng đó là thống nhất một cách chính thức 3 đoàn thể: Đại Việt Quốc Dân Đảng, Việt Nam Quốc Dân Đảng và Đại Việt Dân Chính Đảng.

Bác sĩ Nguyễn Tiến Hỷ trong cuộc gặp Nguyễn Tường Tam lần đầu tiên ở ga Khai Viễn, Vân Nam, đã thẳng thắn duyệt lại quá trình phát triển của Đại Việt Dân Chính tại quốc nội. Từ ngày Nguyễn Tường Tam phải lưu vong đến nay, Đại Việt Dân Chính tại quốc nội không phát triển được, chỉ quanh quẩn trong giới văn học và nghệ sĩ, trong hàng ngũ trí thức mà thôi. Nguyễn Tường Tam cũng công nhận một chính đảng như vậy là không có quần chúng, chỉ có bộ đầu não lãnh đạo. Phải có sự đoàn kết, hợp sức chung của nhiều lực lượng khác nhau nữa mới lãnh đạo được quần chúng. Nguyễn Tường Tam hứa không bao giờ dùng đến tên Đại Việt Dân Chính nữa. Lần thứ hai, Nguyễn Tiến Hỷ đã họp chung với Vũ Hồng Khanh, Nghiêm Kế Tổ, Vũ Quang Phẩm, Nguyễn Tường Tam và cả 3 phe đều đồng ý thống nhất về nguyên tắc như sau: “Ở hải ngoại thì lấy tên là VNQDĐ vì ngoại quốc biết nhiều hơn! Trái lại ở trong nước thì lấy tên ĐVQDĐ. Các điều khác sẽ bàn sau”.

Tại Trùng Khánh, trong cuộc họp lần thứ ba cũng giữa phái đoàn Đại Việt Quốc Dân Đảng với các ông Vũ Hồng Khanh, Nghiêm Kế Tổ, Vũ Quang Phẩm, Nguyễn Tường Tam, ngoài ra có thêm Nguyễn Sĩ Dinh và Phạm Khải Hoàn, Hội nghị quyết định dứt khoát tên gọi như trên. Nguyễn Tiến Hỷ trình bày lá cờ “Sao Trắng” và được chấp nhận. Về Đảng ca, hội nghị sẽ cho sáng tác sau.

Ngày cuối cùng, TQQDĐ mời phái đoàn dự một cuộc dạ yến do Bí thư trưởng Ngô Thiết Thành khoản đãi có lời chào mừng của phía chủ nhà và Nguyễn Tiến Hỷ đã đứng lên đáp từ.

Ngày hôm sau có cuộc hội nghị giữa phái đoàn “Quốc dân đảng” và Trung ương Đảng bộ TQQDĐ do Ngô Thiết Thành chủ toạ [10].

Bác sĩ Nguyễn Tường Bách, trong cuốn Việt Nam, những ngày lịch sử, cho biết: “Ít lâu sau, anh Tam theo đường Lào-cai về đến Hà-nội. Đã gần 5 năm tôi mới gặp lại anh. Cả nhà đều vui mừng. Đương-nhiên mừng nhất là chị Tam và các con và bà mẹ. Chúng-tôi mừng có người anh về chỉ-dẫn hành-động. Trông anh gầy và đen nhưng rắn-giỏi, ít vẻ thư-sinh nho-nhã hơn trước. Anh đã dựa vào Đồng-minh và đưa tổ-chức cũ sáp-nhập vào Việt-nam Quốc-dân đảng. Nhưng tôi xem ra anh không thấy hứng-thú lắm với chủ-nghĩa tam-dân. Chủ-trương của anh giống anh Long, tán-thành chủ-nghĩa dân-chủ, xã-hội theo lối Tây-phương” [11].

Nhất Linh Nguyễn Tường Tam sinh ngày 25 tháng 7 năm 1906 tại huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương. Năm 1927 du học Pháp, đậu cử nhân khoa học. Về nước dạy học, làm báo Phong Hoá, thành lập Tự Lực Văn Đoàn (1933). Năm 1939 Nguyễn Tường Tam lập đảng Hưng Việt, sau đổi thành Đại Việt Dân Chính. Năm 1942 Nhất Linh chạy sang Quảng Châu. Trong thời gian từ 1942 đến 1944 học Anh văn, Hán văn, hoạt động trong Cách Mạng Đồng Minh Hội, rồi về Côn Minh hoạt động trong hàng ngũ Việt Nam Quốc Dân Đảng. Giữa năm 1945, Nguyễn Tường Tam trở về Hà Giang với quân đội, nhưng rồi lại quay lại Côn Minh và đi Trùng Khánh. Đầu tháng 6 năm 1946, Nguyễn Tường Tam trở về Hà Nội, hợp tác với chính phủ liên hiệp kháng chiến, giữ ghế bộ trưởng ngoại giao, cầm đầu phái đoàn Việt Nam đi dự hội nghị trù bị Đà Lạt. Được cử làm trưởng phái đoàn đi dự hội nghị Fontainebleau, nhưng ông từ chối và bỏ sang Tàu, gặp cựu hoàng Bảo Đại, và ở lại Trung Hoa bốn năm [12].

Trong bài “Một vài kí vãng về Hội nghị Đà Lạt”, Hoàng Xuân Hãn đã viết về Nguyễn Tường Tam như sau: “Cử chỉ lễ độ, ăn nói chững chàng, trong buổi xã giao hội họp với kẻ chức trách, hoặc phái viên Pháp, ảnh đã có thái độ cử chỉ đoan nghiêm và đúng mức, không làm thẹn chức vụ bộ trưởng Ngoại Giao và chủ tịch phái đoàn Việt Nam” [13]. Tác giả Nguyễn Tường Bách đã ghi nhận về Nguyễn Tường Tam trong thời gian ở Trung Hoa (1946-51) như sau: “Anh Tam hồi ấy có lẽ vì mệt mỏi nên mắc bệnh suy nhược thần kinh. Mọi người chủ-trương anh phải tỉnh-dưỡng một thời gian, không nên tham gia những hoạt động có thể đưa lại những kích thích quá mạnh”[14] .

Năm 1954, Nguyễn Ngu Í ghi lại hình ảnh của Nhất linh với những cảm nhận đầy “bùi ngùi vô hạn” như sau: “Anh dường như yếu nhiều, và chẳng những tay anh hơi run, mà phía dưới hai gò má anh cũng giật lia, giọng anh liu líu, hơi nói chẳng được dài. Và cả người anh một cái gì mệt mỏi, chán chường” [15].

Trái với hai bức chân dung đầy vẻ chính trị của Trương Tử Anh và Nguyễn Tường Tam khắc hoạ theo ghi nhận của các người đương thời nói trên, hình ảnh của một lãnh tụ quân sự của Vũ Hồng Khanh được ghi lại như sau: “Anh Vũ Hồng Khanh, lãnh-tụ lưu-vong của Việt-Quốc ở Vân-nam, là người mà chúng tôi nghe tiếng từ lâu và cũng mong anh trở về. Tháng 10, anh theo đường Lào-cai, về nước. Dọc đường anh để lại một số đồng-chí họp cùng với các đảng-bộ địa phương, dưới sự che chở của quân Vân-nam đã chiếm lĩnh các tỉnh Hà-giang, Lào-cai, Yên-bái, Phú-thọ, Việt-trì và Vĩnh-yên làm cứ-điểm, dựng cờ Việt-Quốc, khiến chính quyền địa phương của Việt-Minh phải rút ra nông thôn. Đó là những thổ phỉ mà chính-phủ tuyên bố nhất-định sẽ tiêu-diệt. Vũ Hồng Khanh lúc bấy giờ mới hơn 40 tuổi, đã trốn sang Tàu, sau cuộc khủng bố của Pháp năm 1930. Anh đã có công tổ-chức đảng trong số đông Việt-kiều trên đường xe lửa Hà-khẩu – Côn-minh. Trông anh khỏe mạnh, nước da đen rắn-rỏi, đôi mắt bé và lanh-lợi. Chủ trương của anh là theo Chủ nghĩa Tam-dân của Tôn Trung-Sơn, thân Trung-quốc và tất-nhiên không tán thành Cộng-sản. Trong hành động, anh tỏ ra rất gan dạ và bình tĩnh. Chỗ yếu của anh lại là nhược điểm chính: Không những không thông-thạo về lý-thuyết cách-mệnh mà còn thiếu nhìn xa trông rộng nên không thể đem đến cho toàn đảng một sách-lược đứng-đắn, một chiến-lược lâu dài. Đối với công-tác tuyên-truyền, tổ-chức ở trong nước, anh lại không am-hiểu lắm, nên không đi được đến chỗ thống-nhất và tăng-cường lực-lượng nội-bộ. Mà đó mới chính là cơ-sở của thắng-lợi” [16].

Vũ Hồng Khanh tên thật Vũ Văn Giản, sinh năm 1901 tại làng Thổ Tang, tỉnh Vĩnh Yên, theo Nguyễn Thái Học làm cuộc khởi nghĩa 1930, thất bại, lưu vong sang Tàu để tránh thực dân Pháp bắt, về lại VN năm 1945, cùng với Hồ Chí Minh ký hiệp định 6-3-1946 với đại diện Pháp là Sainteny, bị nhiều người phản đối vì cho rằng “họ Vũ đã độc tài, tự ý làm một việc tối quan trọng đến vận mạng Quốc gia, đến Đảng, mà không đưa ra thảo luận trước Tổng Bộ” [17].

Trong cuốn hồi ức Bác Hồ, những kỷ niệm không quên, Phùng Thế Tài là một cận vệ của Hồ Chí Minh cho biết đã từng có lần đánh lãnh tụ Vũ Hồng Khanh và làm cho các tay em của ông này khiếp sợ [18].

Sau ngày nổ ra cuộc kháng chiến toàn quốc tại Hà Nội 19-12-1946, Vũ Hồng Khanh trốn sang Tàu, sau về Hà Nội tổ chức lại VNQDĐ, di cư vào Nam năm 1954. Năm 1967, ông ra ứng cử Tổng Thống VNCH và thất cử. Sau ngày 30-4-1975, ông bị CS bắt đi cải tạo nhưng vẫn tỏ rõ được khí phách can trường của một lãnh tụ đảng phái quốc gia. Lúc bấy giờ khoảng tháng 12-1975, tại trại cải tạo Thủ Đức (vốn là Trung tâm Nữ cải huấn Thủ Đức trước 1975) có khoảng trên 400 nhân viên cao cấp và đảng phái VNCH bị giam giữ tại đây (tôi cũng bị giam chung) và đang “học tập” về “10 bài về tội ác của Mỹ Nguỵ”. Cụ Vũ Hồng Khanh bị giam tại buồng số 10 (tôi buồng 6). Một hôm có tên tướng Công an VC Nguyễn Quyết đến thăm trại giam được ban giám thị dẫn đến buồng 10, và mọi tù nhân trong buồng đều buộc hiện diện nghiêm chỉnh để chào Quyết. Khi Quyết đi ngang cụ Vũ, y dừng lại và cất tiếng hỏi: “Anh Khanh, anh mà cũng có mặt ở đây à? Anh vào đây vì tội gì?” Cụ Vũ không trả lời, nên tên Quyết tiến lại gằn giọng một lần nữa mỉa mai: “Anh Khanh, anh tội gì mà vào đây?” Cụ Vũ ngẩng đầu lên nhìn thẳng vào mặt Quyết, trả lời: “Thưa cán bộ, tội làm cách mạng!” Quyết có sắc giận, hỏi tiếp: “Anh mà cũng dám nói là làm cách mạng à?” Cụ Vũ hiên ngang đáp lại rõ ràng từng tiếng một: “Thưa cán bộ, năm 1927, khi chưa có cái gọi là Đảng Cộng Sản Đông Dương, một số anh em chúng tôi đi theo Nguyễn Thái Học, thành lập Việt Nam Quốc Dân Đảng, lập chiến khu, tổ chức đánh nhau với thực dân Pháp giành độc lập cho đất nước, tự do cho nhân dân, thì việc làm đó, hành động đó không gọi là làm cách mạng thì gọi là gì, thưa cán bộ?” Tên Quyết ngớ người ra, cứng họng vội bước một mạch ra khỏi buồng. Tháng 10 năm 1978, cụ Vũ Hồng Khanh được tha và chỉ định cư trú tại làng Thổ Tang, sống với một người con gái và mất năm 1990 tại quê nhà.

Như đã nói ở trên, Quốc Dân Đảng Việt Nam hay Mặt Trận Quốc Dân Đảng là một kết hợp chính trị giữa ba chính đảng quốc gia của Trương Tử Anh, Nguyễn Tường Tam và Vũ Hồng Khanh nhằm đối phó với Mặt Trận Việt Minh của Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng v.v. tại Hà Nội giai đoạn 1945-1946. Trung Ương Đảng Bộ của Mặt Trận Quốc Dân Đảng gồm hai bộ phận bí mật và công khai.

Tối cao bí mật chỉ huy bộ: Trương Tử Anh, Nguyễn Tiến Hỷ, Vũ Hồng Khanh, Nghiêm Kế Tổ và Nguyễn Tường Tam.
Chủ tịch đoàn công khai:
Chủ tịch: Trương Tử Anh (ĐVQDĐ)
Bí Thư Trưởng: Vũ Hồng Khanh (VNQDĐ)
Uỷ viên: Xuân Tùng (VNQDĐ)
Uỷ viên: Nguyễn Tường Long (ĐVDCĐ)
Uỷ viên: Phạm Cảnh Hoàn (ĐVQDĐ)
Uỷ viên Trung ương:
Tổng Thư ký Trung Ương Đảng Bộ : Nguyễn Tường Tam (ĐVDCĐ)
Uỷ viên: Nguyễn Tường Bách (ĐVDCĐ)
– : Chu Bá Phượng (VNQDĐ)
– : Nguyễn Văn Chấn _
– : Vũ Đình Trí _
– : Phạm Văn Hể _
– : Nghiêm Kế Tổ _
– : Nguyễn Tiến Hỷ (ĐVQDĐ)
– : Phạm Ngọc Chi (ĐVQDĐ)

Trụ sở của Trung Ương đóng tại Trường Tiểu Học Đỗ Hữu Vị, Hà Nội từ ngày 15-12-1945, và sau ngày 13-7-1946 thì dời về số 83 phố Hàng Đẫy. Đảng kỳ của Mặt Trận này gồm nền đỏ vòng tròn xanh ngôi sao trắng vốn là đảng kỳ của Đại Việt Quốc Dân Đảng, đảng ca là bài Việt Nam Minh Châu Trời Đông của Hùng Lân. Cơ quan ngôn luận là nhật báo Việt Nam và tuần báo Chính Nghĩa. Các bộ phận của ba chính đảng tại mỗi tỉnh thống nhất hoạt động với nhau theo từng địa phương với một danh xưng duy nhất là Quốc Dân Đảng Việt Nam. Trong bài viết “Đảng cộng sản khui lại vụ Ôn Như Hầu”, được đăng tải trên một số Website như Thông Luận, Việt Nam Quốc Dân Đảng của ông Lê Thành Nhân, tác giả Nghiêm Văn Thạch nói rằng “Cần nhắc lại là vào lúc đó hai đảng Đại Việt Quốc Dân Đảng do ông Trương Tử Anh lãnh đạo và Việt Nam Quốc Dân Đảng đã đi tới thống nhất dưới danh xưng chung là Việt Nam Quốc Dân Đảng, gọi tắt là Quốc Dân Đảng” [19] là điều cần thảo luận thêm. Mặt trận kết hợp chính trị đó gồm ba chính đảng đó là Đại Việt Quốc Dân Đảng, Đại Việt Dân Chính Đảng và Việt Nam Quốc Dân Đảng, có tên gọi chung là Mặt Trận Quốc Dân Đảng hay Quốc Dân Đảng Việt Nam.

Việc ông Vũ Hồng Khanh tự ý ký hiệp định sơ bộ 6-3-1946 với Hồ Chí Minh và Sainteny cho phép người Pháp trở lại Bắc Việt là một đòn giáng chí tử vào nội bộ Mặt Trận Quốc Dân Đảng. Nhiều người rất bất bình thái độ của họ Vũ trong đó có lãnh tụ Trương Tử Anh. Chính vì vậy, lực lượng của Đại Việt Quốc Dân Đảng cơ hồ rút ra khỏi tổ chức này để tránh bị tiêu diệt.

Trong thời điểm ấy, Trương Tử Anh chú ý tổ chức một trường quân sự có tên Trường Võ Bị Trần Quốc Tuấn tại Chapa, phía trên Lào Kay, giáp giới với tỉnh Vân Nam. Trường này do một số sĩ quan Nhật Bản đảm trách mặc dù lúc đó Nhật đã đầu hàng. Một viên đại tá Nhật tên Việt là Hùng nói với hơn hai trăm học viên vốn là bạn bè của ông Bùi Diễm hay con cái của những gia đình quen thuộc có liên hệ hoạt động trong Mặt Trận Quốc Dân Đảng của Trương Tử Anh: “Chúng tôi có nhiệm vụ giúp các anh để các anh trở thành cấp lãnh đạo của Việt Nam về sau này”.

Vì là một nhân chứng hoạt động sát cánh với Trương Tử Anh nên ông Bùi Diễm đã có những ghi nhận về thế lưỡng đầu thọ địch của các đảng phái quốc gia lúc bấy giờ như sau: “Tôi vừa ở Lạng Sơn về đến Hà Nội vào giữa tháng ba thì được tin là sẽ có cuộc đàm phán sơ khởi với Pháp ở Đà Lạt và phái đoàn Việt Nam sẽ do Bộ Trưởng Ngoại Giao của chính phủ liên hiệp là ông Nguyễn Tường Tam cầm đầu. Thấy vậy, tôi cũng yên tâm phần nào, nhưng đến khi tôi tới gặp ông Trương Tử Anh để tường trình về việc đưa cụ Kim sang Tàu, thì không hiểu ông nhận định tình hình lúc đó ra sao mà, nửa đùa nửa thật, ông bảo tôi: “Cứ cái đà này thì không những Tây không nhả mình ra mà Việt Minh họ cũng không tha mình!”. Những biến chuyển mấy tháng sau đó quả là đúng như lời ông nói” [20].

Theo hệ thống tổ chức riêng của Mặt Trận Quốc Dân Đảng, Bắc Kỳ được chia làm 5 Khu Đảng Bộ; Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh là Đệ lục Khu Đảng Bộ, Đệ thất Khu Đảng Bộ là từ Đèo Ngang (Quảng Bình) vào cho tới Đèo Cả (Phú Yên). Phía nam Đèo Cả và Nam Bộ có 3 Khu Đảng Bộ. Theo ghi nhận của Minh Vũ Hồ Văn Châm, “Nhìn chung các Khu bộ miền Bắc nặng về quân sự, phần đông đảng viên là từ Trung Quốc kéo về, thiên về đường lối bạo lực vũ trang để chiếm đóng lãnh thổ và cướp đoạt chính quyền hơn là nhẫn nại đấu tranh chính trị để tranh thủ nhân tâm và củng cố cơ sở hạ tầng. Các Khu bộ miền Nam còn non trẻ, hầu hết cán bộ nòng cốt là nhóm sĩ quan Lạc Triệu của Đại Việt Quốc Dân Đảng theo Phạm Cao Hùng (Triệu Giang) vào tăng cường. Rút lại chỉ có Đệ Lục và Đệ Thất Khu Bộ là vững vàng về ý thức hệ chính trị và tổ chức cơ sở. Tại Thanh Hoá, Quốc Dân Đảng Việt Nam xây dựng chiến khu Gi Linh, Bái Thượng thành một căn cứ vững chãi. Tại Huế, nơi đặt trụ sở Đệ Thất Khu Bộ, Bửu Hiệp (Bác sĩ, Xứ Uỷ Trưởng Đại Việt Quốc Dân Đảng, chú thích của NĐC) đã khéo léo lãnh đạo đảng viên đặt quyền lợi quốc gia trên tỵ hiềm đảng phái, hàng ngày cắt cử Nguyễn Trung Thuyết và Ngô Văn Hân vào Đại Nội họp bàn với Tố Hữu để giải quyết các vụ xung đột phe phái. Tại Quảng Nam, Trương Phước Tường, Phan Bá Lân, Hoàng Tăng (Hoàng Bình), Phan Ngô, Huỳnh Hoà, Nguyễn Đình Thiệp, từ cuối năm 1945, đã xây dựng nhiều cơ sở quần chúng vững mạnh. Bởi vậy, ở Miền Trung Trung Bộ, chính quyền tuy nằm trong tay Việt Minh nhưng lòng dân thì hơn phân nửa theo về Quốc Dân Đảng Việt Nam. Bàn tay của Đệ Thất Khu Bộ còn vươn dài ra tới Hà Nội. Đệ Thất Khu Bộ tổ chức một trung tâm huấn luyện tại số 9 phố Ôn Như Hầu, Hà Nội, do Phan Kích Nam (Phan Xuân Thiện) phụ trách, để cung ứng cán bộ trung cấp cho Trung Ương và cho các Khu Bộ bạn” [21].

Dấu ấn của sự kết hợp đó vẫn còn duy trì mãi về sau giữa hai chính đảng Việt Quốc và Đại Việt tại Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi v.v., và dân chúng thường nhắc tới ba chữ Quốc Dân Đảng để chỉ bất cứ một trong hai chính đảng nói trên.

3 – Tổng luận về một kết hợp

Ngày nay đọc lại lịch sử giai đoạn đảng tranh 1945-46, độc giả chỉ biết rằng có những cuộc tàn sát các chính đảng quốc gia do CSVN chủ trương nhằm loại bỏ các đối thủ chính trị nhưng không biết rõ có sự kết hợp giữa Đại Việt, Việt Quốc, Dân Chính để chống lại kẻ thù chung là Cộng Sản. Các nguồn tư liệu có nói về sự kết hợp đó đa số xuất phát từ trong nội bộ các chính đảng như Đại Việt Quốc Dân Đảng, Việt Nam Quốc Dân Đảng hay Đại Việt Dân Chính. Một số viết khá rõ ràng nhưng một số viết lờ mờ vì không nắm vững tư liệu, thí dụ trong cuốn hồi ký Trả Ta Sông Núi, tác giả Phạm Văn Liễu có viết: “Do tình cờ, tôi được làm quen với ông Phạm Cảnh Hoàn, một cán bộ Việt nam Quốc Dân Đảng Hải Ngoại mới về nước hoạt động dưới danh nghĩa Quốc Dân Đảng hay Đại Việt Quốc Dân Đảng. Sở dĩ có sự hỗn độn về danh xưng này là do các đảng phái quốc gia đã nỗ lực liên kết giữa hải ngoại và nội địa từ năm 1943. Ông Phạm Cảnh Hoàn và một số người khác, như ông Lý Đông A Nguyễn Hữu Thanh, được phái về móc nối tổ chức nội địa, hầu chuẩn bị cho kế hoạch Hoa quân nhập Việt của các Tướng lãnh Hoa Nam. Họ hô hào các phe nhóm trong nước đoàn kết thành một khối, dùng danh xưng Việt Nam Quốc Dân Đảng hay Duy Dân trong nước, và Việt Nam Quốc Dân Đảng hay Quốc dân Đảng ở hải ngoại. Theo những người thân Lý Đông A và Nguyễn Tường Long, các nhóm Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Tường Tam, và Nguyễn Hữu Thanh liên kết thành nhóm Duy Dân. 5 người, trong đó có Nguyễn Tường Tam, Nghiêm Kế Tổ, Vũ Hồng Khanh, Lý Đông A và một người không rõ tên, ký chung một “Ký Chình”[22] về vấn đề hợp nhất này. Nhưng ông Lý Đông A chẳng giải thích rõ ràng đâu là điểm khác biệt giữa Duy Dân với Tam Dân chủ nghĩa hay Dân tộc sinh tồn của Đại Việt, chỉ map mờ, bí ẩn nói cả ba đều cùng một gốc. Mùa hè 1945, do sự dàn xếp của chính phủ Trùng Khánh, Y sĩ Nguyễn Tiến Hỉ dẫn một phái đoàn qua Hoa Nam tiếp xúc với các tổ chức hải ngoại. Y sĩ Hỉ cùng các ông Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Tường Tam ký một hiệp ước liên kết khác, và được Tưởng Giới Thạch tiếp kiến ở Trùng Khánh. Từ đó danh xưng Quốc Dân Đảng ra đời, nhưng thực chất bao gồm nhiều tổ chức, đặc biệt là Việt Nam Quốc Dân Đảng và Đại Việt Quốc Dân Đảng” [23].

Trong số ba chính đảng nói trên thì Đại Việt Dân Chính Đảng tỏ ra không có thực lực gì cả. Sau đây là nhận định của tác giả Nguyễn Tường Bách: “Bỗng một hôm anh Tam rủ tôi ra ngoài sân nhà báo nói chuyện. Anh nói vắn tắt là anh đã thành lập một đảng bí mật, mục đích là đấu tranh cho độc lập, phế bỏ chế độ vua quan, lập nên một nước Cộng hoà và hy vọng tôi tham gia. Sự đó không làm tôi ngạc nhiên vì tôi đã nghe nói qua, cũng rất tán thành. Song lúc đó về cách mệnh hay chính trị thì tôi rất ấu trĩ nên cũng không hỏi thêm về chi tiết nữa. Chúng tôi vào cùng một chi bộ nhưng thực ra không có hoạt động thực tế gì và cũng không phát triển được đảng viên mấy. Mai sau này mới có một tờ in tay nói về cương lĩnh của đảng. Đó là một sự kết hợp hỗn tạp của chủ nghĩa Quốc gia trong đó có thành phần của chủ nghĩa Tam dân, lại có cả thành phần của chủ nghĩa Phát-xít, nhưng đầu óc chính trị non nớt của tôi hồi ấy không thể phân biệt được đâu là đúng, đâu là sai. Nhưng cái cương lĩnh hỗn tạp ấy bản thân nó không thể lôi cuốn được đa số quần chúng, nhất là quần chúng lao động ở thành thị cũng như ở nông thôn. Mặt khác, công việc tuyên truyền và tổ chức rất yếu ớt nên số đảng viên Đại Việt Dân Chính chỉ gồm một số trí thức, công chức và trung lưu ở thành phố, không là bao nhiêu. Những người lãnh đạo lại không có một đường lối cụ thể để động viên dân chúng, không biết tìm cách vũ trang để chuẩn bị khởi nghĩa mà lại phán đoán nhầm tình hình quốc tế. Mông tưởng dựa vào sức Nhật để đánh đuổi thực dân Pháp, không thấy rõ bản chất của Đế quốc Nhật. Tất nhiên là đưa toàn đảng đến chỗ thất bại không thể tránh được sau này” [24].

Ngoài ra cũng còn một số tài liệu khác như cuốn Đại Việt Quốc Dân Đảng Lược Sử [25] và Cách Mạng Việt Nam Thời Cận Kim – Đại Việt Quốc Dân Đảng [26] của Quang Minh là những tư liệu có đề cập tới Mặt Trận Quốc Dân Đảng với nhiều nỗ lực của ban biên tập hay của người viết nhưng ít dựa trên tài liệu có kiểm chứng, thiếu phương pháp sử nên giá trị cũng tùy theo người sử dụng. Tác phẩm có đề cập nhiều đến hoạt động của Hồ Chí Minh và các đảng phái cách mạng Việt Nam tại Trung Quốc giai đoạn nửa đầu thế kỷ 20 là cuốn Hồ Chí Minh tại Trung Quốc của Tưởng Vĩnh Kính cũng có nói qua sự kết hợp chính trị mà chúng ta vừa phân giải. Sách này viết vắn tắt như sau:

Từ đầu tháng 6, Việt Nam Quốc Dân Đảng và Đại Việt đã hợp nhất để tổ chức một đoàn đại biểu viếng thăm chính phủ Trung-quốc. Phái đoàn do Phan Châm cầm đầu, đến thủ đô thời chiến của Trung-quốc là Trùng-khánh, đã được chính phủ Trung-quốc chính thức đón tiếp và bảo đảm ủng hộ. Ngày 25 tháng 6, Tưởng ủy viên trưởng đã tiếp kiến toàn thể nhân viên phai đoàn. Họ yêu cầu Tưởng ủy viên trưởng giúp đỡ cho dân tộc Việt-nam được độc lập, tự do” [27].

Vấn đề do sự kết hợp chính trị mà hệ quả còn lại cho đến ngày nay là lá cờ sao trắng của Đại Việt Quốc Dân Đảng được sử dụng chung cho Mặt Trận Quốc Dân Đảng, nhưng sau khi cuộc kết hợp chấm dứt, các hệ phái VNQDĐ vẫn tiếp tục sử dụng lá cờ đó (nền đỏ, vòng xanh, sao trắng) làm đảng kỳ của họ mà không trả lại cho Đại Việt, và nếu tôi không lầm thì có tư liệu đăng trên Web của anh em VQ còn viết là đó là đảng kỳ do VQ chế tác ra. Các hệ phái Đại Việt Quốc Dân Đảng ngày nay tại hải ngoại âm thầm lấy lại lá cờ đó mặc dù có sự trùng dụng với anh em Việt Quốc trong khi Tân Đại Việt sử dụng lá đảng kỳ Đại Việt năm 1951 (nền đỏ có lằn vàng nghệ ở giữa trong có vòng xanh sao trắng). Đại Việt Cách Mạng Đảng chấp nhận lá cờ nửa trên đỏ nửa dưới vàng giữa có vòng xanh sao trắng qua đại hội đảng kỳ I ngày 25.12.1965.

Chủ nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn cũng được sử dụng làm kim chỉ nam cho ba chính đảng nói trên qua tổ chức chính trị kết hợp nhưng sau năm 1946, VNQDĐ trở về với chủ nghĩa Tam Dân, Đại Việt Dân Chính án binh rồi về sau tự giải tán (khoảng 1951) khi Nhất Linh tuyên bố không làm chính trị nữa và lên Đà Lạt viết văn, mải mê với thú chơi hoa lan, và dĩ nhiên sau đó chủ nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn lại làm một cuộc “châu về Hiệp phố” với anh em Đại Việt.

Đảng ca lúc bấy giờ được chọn là bài “Việt Nam Minh Châu Trời Đông” cho Mặt Trận Quốc Dân Đảng, một kiệt tác của Nhạc sĩ Hùng Lân sáng tác năm 1944. Hùng Lân chính tên Hoàng Văn Hường người gốc Sa Đéc được gửi cho cha mẹ nuôi tại Hà Nội, rồi lâu năm trở thành người Hà Nội. Khi nhỏ theo đạo Công Giáo, lớn lên vào tu Tiểu Chủng viện rồi lên Đại Chủng viện Xuân Bích, sau đó xuất tu, ông sáng tác nhiều bài hát giá trị trong đó có bài “Việt Nam Minh Châu Trời Đông”. Có giai thoại nói rằng ông có lần bị người Pháp bắt giữ trong tù lại gặp một cán bộ Đại Việt xin ông sáng tác cho đoàn thể một đảng ca. Ông có hứa và khi ra tù đã thực hiện bài Việt Nam Minh Châu Trời Đông, nhưng không có tài liệu để kiểm chứng giai thoại này và hơn nữa theo tiết lộ của em trai nhạc sĩ Hùng Lân là Hoàng Văn Sự (bạn học của người viết bài này) thì nhãc sĩ Hùng Lân không bao giờ bị ở tù dưới chế độ người Pháp hay Việt Minh. Bài “Việt Nam Minh Châu Trời Đông” và bài “Cung kèn rạng đông” được trao tặng giải Nhất cuộc thi “Sáng tác toàn quốc năm 1944” do Hội Khuyến Nhạc ở Hà Nội qua nhạc sư Nguyễn Văn Giệp làm Hội trưởng tổ chức. [28]

Ngày nay bài học lịch sử qua sự đoàn kết vẫn là một thôi thúc cho những ai còn dấn thân sinh hoạt trong các chính đảng quốc gia chân chính. Cần thiết phải xem đảng, đoàn thể hay liên hiệp chính đảng chỉ là phương tiện đấu tranh cho sự sống còn của dân tộc, chứ không phải là mục tiêu để phục vụ như CSVN hiện nay. Cái hơn hẳn của chính đảng quốc gia là ở chỗ đó.

Nguyễn Đức Cung
New Jersey ngày 19 tháng 12-2009

[1] Bùi Diễm, Gọng kìm lịch sử. Cơ sở xuất bản Phạm Quang Khai, 2000, trang 40.
[2] Trích từ Tuyên cáo Đại Việt Quốc Dân Đảng.
[3] Tổng Bộ Tuyên Nghiên Huấn, Đại Việt Quốc Dân Đảng Lược Sử.
[4] Lê Thiệp, “Cố nghị sĩ Đặng Văn Sung: Một tấm lòng son với nước non”, Bán nguyệt san Việt Báo Miền Đông, số 54, ra ngày 01/06/1998 do Lê Phú Nhuận chủ biên, ấn hành tại Philadelphia, Tiểu bang Pennsylvania.
[5] Lê Thiệp, Bài đã dẫn.
[6] Nguyễn Tường Bách, Việt Nam, một thế kỷ qua, dẫn lại theo Nguyễn Văn Quảng Ngãi, Theo giòng kỷ niệm, 2001.
[7] Bùi Diễm, Sđd, trang 43.
[8] Bùi Diễm, Sđd, trang 58.
[9] Tưởng Vĩnh Kính, Hồ Chí Minh tại Trung Quốc, bản dịch Thượng Huyền, Nxb. Văn Nghệ 1999, trang 155.
[10] Việt Dân Hoàng Văn Đào, Việt Nam Quốc Dân Đảng – Lịch sử đấu tranh cận đại, 1927-1954. Tái bản kỳ II, 1970, trang 221.
[11] Nguyễn Tường Bách, Việt Nam, những ngày lịch sử. Nhóm nghiên cứu Sử Địa Việt Nam xb., Canada, 1981, trang 82.
[12] Thuỵ Khuê, “Tiểu sử Nhất Linh” trong tuyển tập gồm nhiều tác giả nhan đề Nhất linh, người nghệ sĩ, người chiến sĩ. Nxb. Thế Kỷ, 2004, trang 10-17.
[13] Trích tập san Sử Địa số 23 và 24, Sài Gòn 1971, tái bản tại Pháp do AVAC, năm 1987, trang 44. Dẫn lại theo Võ Phiến, “Đọc bản thảo Nhất Linh”, Tuyển tập Nhất linh, người nghệ sĩ, người chiến sĩ, sđd, trang 55.
[14] Nguyễn Tường Bách, Việt Nam, những ngày lịch sử, Sđd, trang 139.
[15] Võ Phiến, Bài đã dẫn, trang 55.
[16] Nguyễn Tường Bách, Sđd, trang 76.
[17] Việt Dân Hoàng Văn Đào, Sđd, trang 308.
[18] Phùng Thế Tài, Bác Hồ, những kỷ niệm không quên. Nxb. Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2002, trang 79, dẫn lại theo Minh Võ, Hồ Chí Minh, nhận định tổng hợp. Nxb. Tiếng Quê Hương, tái bản lần I, Virginia, 2006, trang 197.
[19] Nghiêm Văn Thạch, “Đảng cộng sản khui lại vụ Ôn Như Hầu”, Thông Luận điện tử ngày 09.09.2005. Báo điện tử của VNQDĐ cũng đăng bài đó, không ghi ngày lên mạng.
[20] Bùi Diễm, Sđd, trang 79.
[21] Minh Vũ Hồ Văn Châm, “Tản mạn về Miền trung Trung Bộ”, Tạp chí Cách Mạng, số 24, tháng 10 năm 2001.
[22] Ông Nguyễn Tường Thiết, trưởng nam cụ Nguyễn Tường Tam, đã chuyển cho tiến sĩ Vũ Ngự Chiêu một phóng ảnh “Ký Chình” trên. Nhưng lại có tin cụ Nguyễn Tường Tam xin gia nhập Việt Nam Quốc Dân Đảng ở Vân Nam, và vào Việt Nam Cách Mệnh Đồng Minh Hội trong mùa thu 1944. (Hồi ký Phạm Văn Liễu, trang 82).
[23] Phạm Văn Liễu, Trả Ta Sông Núi, hồi ký 1. Nxb. Văn Hoá, 2002, trang 81.
[24] Nguyễn Tường Bách, Việt Nam những ngày lịch sử, Sđd, trang 35.
[25] Do Tổng bộ Tuyên Nghiên Huấn Đại Việt Quốc Dân Đảng chủ biên (nhóm BS Nguyễn Tôn Hoàn tại Cali, 1993).
[26] Do tác giả Quang Minh (Trương Văn Nguyên ?) biên soạn, không đề năm in.
[27] Tưởng Vĩnh Kính, Sđd, trang 352. Phan Châm hay Trâm là bí danh của Nguyễn Tiến Hỷ.
[28] Lê Ngọc Bích (1933-2009), Nhân Vật Công Giáo Việt Nam Thế Kỷ XVIII-XIX-XX. Sài gòn 2006, bản lưu hành nội bộ, trang 261.

Quảng cáo/Rao vặt

4 Comments on Mặt Trận Quốc Dân Đảng một kết hợp chính trị giai đoạn 1945-1946

  1. Đạo Tôn / http://www.quocto .com xin thưa Backy54 , chúng tôi
    to6n trọng lòi thề nhập tịch , tuyệt đối tôn trọng Quốc sách và quốc Pháp Hoa Kỳ , một chữ Viết , một ý nghĩ chúng tôi cũng
    cân nhác và hỏi FBI trước khi Viết và nói . Địa chỉ chúng tôi ghi trên http://www.quocto .com kính mời quý Ngài Bác kỳ 54 đến tho .
    Lộc thờ Đức Quốc Tổ Hùng Vương và Washington , an toan đúng theo luật pháp Hoa Kỳ , Trân trọng

    Số lượt thích

  2. Thưa quý vị có phải vì Bác Kỳ 54 mà các đảng phái chúng ta mất chánh nghĩa và cái thế toàn ca6`u chăng . Kính mời quý O6ng quý Bà Bác Kỳ 54 đến Quốc Tổ Đại Miếu chúng tôi dùng chén tra lạt , nhìn nhau chõ mặt , xin mời vào http://www.quocto .com có địa chỉ minh bạch tứ đại quang minh cái gì chúng tôi cũng lên FBI trước khi nói và viết . Kính trọng quý vị Bác kỳ 54 như ý nguyện . Chúng tôi là Bắc kỳ 75

    Số lượt thích

  3. Cái tên Đạo Tôn khùng này lại xuất hiện ở trang web này nữa à? Bị đá ra khỏi trang mạng HHT nay lại thấy mò vô đây, định giở trò gì nữa đây ? Ăn bậy nói bạ ,chẳng ai hiểu muốn nói cái gì, muốn phê phán cs hay bênh vực? Đừng làm trang mạng này thành chổ truyền đạo của mấy thằng khùng nghe cha nội. Không ai thèm nghe đâu, làm ơn biến đi.

    Số lượt thích

  4. Thưa quý vị Nội Lực và Ngoại Lực cũng như âm dương có giá trị ngang nhau . Đẳng Cộng Sản có hệ thống tổ chức toàn cầu và như vậy đã “‘ Toàn cầu Hóa ” … Đảng Cộng sản VN dĩ nhiên cũng năm trong trong quỹ đạo đó . Còng các đảng Phái do người VN lập nên để tranh thủ độc lập cho người VN giới hạn trong
    lãnh thổ VN nên rất bị thiệt thòi và giới hạn nên bị thua …
    Làm sao các đảng phái Vn có tính cách toàn cầu thì mới được toàn cầu yểm trợ thì mới chuyển hóa được vậ mênh … Thật là nan giải cần nhiều cao kiến trân trọng .
    http://www.quocto . com tiếng nói của Tổ Tiên Tiên Thiên Chánh Giáo Mỹ Việt /Mời quý thường nghe

    Số lượt thích

Góp ý, Thảo luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

%d bloggers like this: