Bài mới trên BÁO TỔ QUỐC

Cọp Khánh Hòa, ma Bình Thuận

Thuở nhỏ, tôi vẫn thường hay nghe người lớn truyền nhau câu “Cọp Khánh Hòa, ma Bình Thuận” mỗi dịp trà dư tửu hậu. - Ối chà! Đã nói tới cọp, tới ma thì ai lại không biết hai tỉnh Khánh Hòa với Bình Thuận là cái ổ! Cọp Khánh Hòa, ma Bình Thuận có tiếng mà! Họ thi nhau kể rất nhiều chuyện về cọp ở Khánh Hòa và đủ thứ chuyện ma ở Bình Thuận. Chuyện nào cũng thật ly kỳ hấp dẫn. Bình Thuận, nghe nói ở đâu xa lắm, ở cái tuổi lên bảy, lên tám, tôi không hình dung được cái xứ sở đó ở đâu và tại sao lại có nhiều ma. Chứ còn cọp Khánh Hòa của xứ tôi thì… Theo sách vở xưa, Khánh Hòa có câu vè dân gian ghi lại những địa danh và đặc điểm từng nơi theo tương truyền xưa kia: Mây Hòn Hèo Heo Đất Đỏ Mưa Đồng Cọ Gió Tú Hoa Cọp Ổ Gà Ma Đồng Lớn Ổ Gà nằm về phía bắc thị trấn Ninh Hòa, phía tây đèo Bánh Ít. Núi không cao nhưng cây cối rậm rạp. Chổ nào có rừng là có cọp. Nhưng cọp ở Ổ Gà nhiều hơn các nơi rừng núi trong tỉnh. Tương truyền có lúc cọp ở Ổ Gà kéo ra đường cả đàn. Câu tục ngữ “Cọp Khánh Hòa, ma Bình Thuận” là từ chổ này mà ra. Chuyện xa xưa như thế nào thì không rõ lắm, nhưng cái Xóm Cồn, nơi chôn nhau cắt rún của tôi, lúc ban sơ chỉ là một bãi cát hoang vắng, mọc um tùm đầy những cây bần, cây đước, lau sậy, dần dà được hình thành, thành xóm, thành làng thì có lắm chuyện về cọp từ phía Hố Dâu bơi qua sông Cái, vào làng bắt súc vật, dân làng bao phen chống trả ra sao, được ông già, bà lão thuở xưa đến đây khai hoang lập nghiệp, kể đi kể lại cho con cháu đời sau nghe là chuyện có thật.


Chỉ ra đứng đàng sau hè nhà, cạnh bờ sông Cái, nhìn qua cầu Xóm Bóng, Tháp Bà, phía bên kia bờ sông rộng, những ngọn tháp đen sì, sừng sững mang đầy vẻ âm u, huyền bí là một vùng núi rừng chập chùng, trùng điệp. Ở đó, trong trí tưởng của tôi, là cả một giang sơn của cọp.
Sau lưng Tháp Bà là Hố Dâu, một địa danh nghe vừa sờ sợ lại vừa kích thích trì tò mò, thám hiểm của tuổi ấu thơ. Ở Hố Dâu không có nhà cửa hay ruộng vườn chi cả, chỉ có duy nhất một ngôi chùa, gọi là chùa ông Bửu, một ngôi chùa nhỏ, cô độc, lưng dựa vào núi, mặt ngó ra bờ sông. Chùa vắng vẻ, hiu quạnh, vào ra có mỗi một vị sư già trụ trì. Pháp danh của sư cụ là gì tôi không biết, cũng không nghe ai nhắc tới. Chỉ nghe cậu Ba tôi khi đến thăm, đều thưa là ông Bửu.
Đó là vào dịp mỗi cuối năm. Vào ngày 23 hoặc trễ lắm là 25 tháng chạp Âm Lịch, cậu Ba, con cả của ông bà ngoại tôi, lại dẫn anh em chúng tôi, một lô con cháu, nội, ngoại của đại gia đình họ Trần, hơn cả chục đứa với các cậu Sáu, dì Năm, mợ Tám… đi bằng ghe qua Hố Dâu để “dãy mả”. “Dãy mả” là tục tảo mộ hàng năm của một số gia đình ở Nha Trang, giống như sơn quét nhà cửa cho khang trang, mới mẻ để mời ông, bà về ăn Tết với con cháu.
Ở Ninh Hoà – Hòn Khói quê nội tôi, thì tục lệ tảo mộ được cử hành vào tiết Thanh Minh, tháng ba Âm Lịch.
Thanh Minh trong tiết tháng ba,
Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh.
Mỗi lần ghe cặp bến trước chùa, cậu Ba tôi đều ghé vào chùa thăm sư ông trước và không quên “kỉnh” chút ít tiền, đôi gói trà, chai rượu, bó nhang đèn cúng Phật để gọi là tạ ơn sư ông đã “ngó chừng” dùm nghĩa địa của gia tộc tôi, ngăn bọn trẻ chăn trâu phá phách rồi mới dẫn chúng tôi đi vào nghĩa địa.
Cậu tôi bảo, đất đai ở Hố Dâu là do ông Bửu khai phá để lập chùa. Hồi trước ở đây là bãi hoang, nhiều cọp, beo lắm. Ông Bửu có công đã xua đuổi chúng đi vào núi cao, rừng sâu để ở, không cho bơi qua sông, vào tận làng để bắt heo, dê đang nuôi trong chuồng, cõng trên lưng, bơi về lại hang ổ trong núi Hố Dâu để ăn thịt.
Nhìn ông Bửu, một vị sư già, gầy khẳng khiu trong bộ nâu sòng rộng thùng thình, nhưng tinh thần rất tráng kiện với đôi mắt sáng tinh anh, tôi cứ liên tưởng đến các nhân vật thần tiên, thần thông quãng đại trong truyện “Bát tiên quá hải” mà tôi được đọc ké sách của Má tôi mỗi khi bà “nằm nơi”, rồi bất giác đem lòng kính phục, ngưỡng mộ. Nhưng lúc ấy, chúng tôi chỉ là lũ bé con đứng thập thò ngoài cửa chùa nhìn nhón vào chứ đâu dám bước vào trong. Vì thế suốt cả quảng thời gian thơ ấu, chúng tôi chưa bao giờ được có cơ hội nắm tay ông để tỏ lòng kính trọng và chiêm ngưỡng hay để được cái ân huệ ông xoa đầu, vuốt tóc.
Tuy thế, hình ảnh của ông Bửu mang dáng vẻ một tiên phong đạo cốt vẫn là dấu ấn đậm nét thần tiên trong lòng tôi, một đứa bé nhiều mộng mơ và tưởng tượng, rất nhiều năm sau này.
Nhiều gia đình ở Nha Trang đến mua đất của ông Bửu để xây nghĩa địa gia tộc vì địa thế ở đây không xa thành phố bao nhiêu mà khung cảnh lại u trầm, tĩnh mịch, cách biệt hẵn với cái ồn ào náo nhiệt của thế tục.
Bên cạnh nghĩa địa của gia tộc tôi còn có mấy cái khác nữa, nằm rãi rác, xa xa, nên đến ngày cuối năm đi “dãy mả”, khu rừng hoang vắng, hiu quạnh quanh năm ở chùa ông Bửu, Hố Dâu bỗng trở nên rộn rịp, ríu rít với tiếng cười, tiếng nói, tiếng ơi ới của bọn trẻ con, trai gái mấy chục đứa gọi nhau, làm huyên náo cả một góc núi rừng.
Như đã nói trên, cái tên Hố Dâu nghe có vẻ vừa sờ sợ lại vừa kích thích trí tò mò thám hiểm của tuổi ấu thơ, bởi mỗi khi chiều xuống chạng vạng, bóng tối nhập nhòa, nhất là những ngày mưa gió tơi bời, đứng sau hè nhà nhìn về phía Hố Dâu, tôi cứ có cảm giác rờn rợn, sợ hãi trong lòng khi tưởng tượng ra một mình đang lạc đường trong chốn ấy, không tìm được lối ra. Còn kích thích sự tò mò, thám hiểm là chính cái ngày đi tảo mộ. Tiếng là đi theo để phụ giúp người lớn trong việc nhổ cỏ, phát quang các lùm cây dại, dây leo ngoài hàng rào, mọc um tùm, dầy ken, tràn lan vào phía trong mấy chục cái mộ nằm thành bốn hàng ngay ngắn. Bưng, gánh đất mới đắp trên mộ cũ cho sạch sẽ và cao thêm vì bị mưa lũ cả năm xói mòn…Làm thì ít, nhưng len lén trốn rồi kéo nhau len lỏi khắp nơi trong núi để hái trái rừng như dủ dẻ, ma dương, chim chim, cò ke… để ăn một cách rất ngon lành, thú vị thì nhiều hơn.
Công việc chính của “dãy mả” rốt cục là của các cậu, mợ, dì lớn tuổi lo chu tất. Mỗi lần như thế cậu Ba tôi cứ hăm he:
– Tụi bây cứ lo chơi, không lo giúp làm cho mau xong, để nắng lên trưa trờ, trưa trật mệt chết! Sang năm không cho đi theo đi nữa!
Nhưng rồi năm nào chúng tôi cũng nằn nì xin cha mẹ cho đi theo với lời hứa ngon lành:
– Lần này tụi con “dãy mả” xong rồi mới đi hái trái rừng.
Cái háo hức được ngồi ghe từ tờ mờ sáng, lắng tai nghe tiếng mái chèo khoắng nước róc rách, tiếng ghe lướt đi nhè nhẹ trong làn hơi nưóc bốc lên mờ mịt trên mặt sông, cảnh như tranh vẻ cứ lẩn quẩn trong tâm trí tôi suốt đêm, không thể nào nhắm mắt ngủ được. Cứ trông cho trời mau sáng. Đến khi được ngồi trên ghe rồi thì hai con mắt cứ riu ríu muốn ngủ gà, ngủ gật.
Cái thú được đi “dãy mả” cuối năm để được tung tăng thám hiểm trên núi hái trái rừng vừa sợ vừa ham thích của tôi cứ tiếp tục một cách thú vị và hào hứng như thế suốt thời gian từ tiểu học lên đến trung học mới chấm dứt. Nhiều năm sau đó tôi phải rời Nha Trang để đi học xa, rồi đi làm xa, nhưng những ngày cuối tháng chạp, gần tết, những ngày gió bấc lành lạnh thổi leo pheo từng cơn, không về quê được, những kỷ niệm đi “dãy mả” cứ gợi nhớ man mác trong lòng.
Công việc “dãy mả” chừng khoảng chín, mười giờ sáng là hoàn tất. Cả khuôn viên nghĩa địa như sáng hẵn lên. Cỏ dại, dây leo um tùm lúc nãy, giờ đây đã được dọn sạch sẽ. Cậu tôi cho bày lễ vật cúng ra gồm nhang, đèn, hoa quả, bánh trái trải trên một tấm vải nhựa. Chúng tôi xúm vào đốt nhang, đèn, rót rượu trắng ra mấy chiếc ly. Cậu Ba bắt đầu trịnh trọng khấn vái nho nhỏ một hồi. Sau đó cậu đưa cả bó nhang lớn đang nghi ngút khói cho chúng tôi, chia nhau mỗi đứa một nắm, tản ra cắm trên các mộ. Còn dư, cắm sang các mộ khác của nghĩa địa bên cạnh. Cậu tôi bảo đó là đi chào hỏi hàng xóm, láng giềng thay cho ông bà. Sau rốt là đốt vàng mả.
Nhìn những ngôi mồ vừa được đắp đất mới, bên trên cắm mấy nén nhang đang tỏa khói lảng đảng trên không, tôi có cảm nghĩ giống như căn nhà đang mở cửa đón Tết. Mùi thơm hương nhang, mùi đất mới ngai ngái, mùi cỏ cây vừa bị phát quang hăng hắc, quyện vào với nhau, tạo nên một mùi vị rất đặc biệt không biết gọi là mùi gì. Sau này xa nhà, nhớ về làng xóm cũ, mới nghiệm ra đó là mùi quê hương, đất tổ. Có đi xa, tình yêu quê hương mới thấy đậm đà, mới nhớ lại để nhớ, để thương hung.
Chốc chốc, có tiếng chim cu gù “cúc cù ru…u…ù” lúc xa, lúc gần, rất lẻ loi, vọng lại trong sự yên ắng, tĩnh mịch của núi rừng nghe cứ nao nao, buồn buồn trong bụng.
Đến lúc má tôi và các dì, mợ bày thức ăn ra để cả nhà ăn sáng, cũng vừa lúc chúng tôi đang đói bụng dữ vì cả buổi sáng leo trèo, nhảy nhót quá nhiều. Trong lúc ăn, các cậu, dì và cả má tôi nữa, thay nhau nhẫn nha nhắc lại những công ơn hoặc kỷ niệm về ông bà cố, ông bà nội, ngoại, chú, bác… những họ hàng, quyến thuộc đang yên nghĩ nơi đây. Mỗi lần như thế các người đều không quên chỉ vào từng ngôi mả nhắc nhở cho đám con cháu nhớ kỹ mả đó là của ai, người nào… để khi tiếp nối công việc thiêng liêng này mà cúng vái cho đúng tên tuổi, thứ bậc.
Và sau cùng vẫn luôn là những câu chuyện truyền khẩu về ông Ba mươi, Chúa sơn lâm, cái thuở còn hống hách, tung hoành ngang dọc tại Hố Dâu, sau lưng chùa ông Bửu này.
Những chuyện kể đó đã được kể đi, kể lại bao nhiêu năm rồi, nhưng chúng tôi lần nào cũng cứ há hốc miệng ra vừa nghe, vừa sợ, vừa thích thu. Để rồi một lúc sau, không biết bằng cách nào chúng tôi ngồi sít lại gần nhau mà không hay.
Nhiều chuyện ly kỳ về những ông Ba mươi ở cái Hố Dâu này lắm. Không biết hư thực ra sao, mà vẫn cứ hấp dẫn bọn trẻ chúng tôi vô cùng. Như chuyện một ông Bạch Hổ cứ đêm đêm xuống nằm phủ phục trước chùa để nghe ông Bửu đọc kinh, mãi đến tảng sáng mới chịu lui vô núi. Như chuyện ông cọp ba móng thù dai cứ rình rập sau Tháp Bà để chực trả thù kẻ đánh bẫy làm ông gẫy mất một chân, làm cho người đi hái củi trong núi cứ thấp thỏm lo sợ đề phòng. Rồi chuyện Thần hổ, mỗi khi trăng rằm thì hiện thân thành người, một ông già râu tóc trắng như cước, ngồi dưới gốc cây xem xét cuốn sổ ghi tên họ những ai có số bị cọp ăn, lúc nào, tháng nào trong năm, để ông sai phái đệ tử đi làm nhiệm vụ cho đúng qui định. Lại còn có chuyện cọp lầm, vồ không đúng người có số cọp ăn, sẽ bị trừng phạt nặng nề. Chuyện cọp bị trời hạn chế việc lạm sát, giết hại bừa bãi loài người, bằng cách không cho xương cổ được cử động nghiêng qua, ngó lại, ngoái lui như người để khó khăn trong việc vồ mồi. Chuyện lỗ tai cọp khi đi va quẹt vào lá là quên tuốt hết các việc vừa xãy ra trong quá khứ để khỏi nhớ dai. V.v…
Nhưng chuyện đánh cọp sau đây là chuyện có thực do ông ngoại tôi kể lại. Người đánh nhau với cọp không ai khác hơn là ông Hồ (không phải lão Minh râu đâu) người phụ việc đóng ghe cho ông ngoại tôi. Lúc được nghe câu chuyện này, tôi đã hơn mười tuổi rồi. Còn ông Hồ và ông ngoại tôi đều đã hơn bảy mươi. Ai nấy đều râu tóc bạc phơ cả.
Ông tôi kể rằng, hồi xửa, hồi xưa lâu lắm rồi, từ cái thời ông Bảo Đại còn chưa sanh ra lận, đời sống của dân bốn xứ miền Trung gồm Nam, Ngãi, Bình, Phú khổ lắm. Đất thì khô cằn sỏi đá. Quanh năm cầy sâu cuốc bẩm, quần quật mà vẫn không đủ lúa gạo để ăn. Nhiều năm mất mùa phải ăn cả vỏ cây. Do đó, một số đã bỏ xứ kéo nhau lang thang vào đất Khánh Hòa để tha phương cầu thực. Và cái làng Xóm Cồn này đã là nơi đất lành chim đậu. Ban đầu họ chỉ có mấy mươi gia đình, sống quây quần với nhau trên một dãi đất thoi loi, bề ngang hẹp chỉ chừng năm chục thước, từ sau lưng Tòa Tỉnh trưởng Khánh Hòa kéo dài ra giữa nước. Bên trái là sông. Bên phải là biển. Cồn này do đất phù sa của con sông Cái chảy ra biển mà thành. Trên cồn mọc um tùm lau sậy, cây dại và bụi rậm. Phía bên kia sông là xóm Bóng, dưới chân Tháp Bà.
Lúc đó Ông Tư (Bác sĩ Yersin) chưa xây cái lầu ba tầng ở đây để làm nơi nghiên cứu “pha học”. Khi Ông Tư đến xây “Ngù gió” (Đài thiên văn) thì dân làng mình đã đông tới mấy trăm nóc gia rồi.
Đa phần dân làng sống bằng nghề chài lưới và chăn nuôi. Ngày ngày, người chồng dong thuyền ra khơi đánh cá, người vợ ở nhà chăm lo bầy heo đôi ba con. Hoặc có nhà nuôi đàn dê năm bảy con để lấy sữa bán cho Chà Và. Cuộc sống bắt đầu thảnh thơi, dễ thở, nhưng cái nạn cọp bên Hố Dâu lâu lâu cứ bơi qua sông, mò vào làng bắt heo, bắt dê đi mất, làm nhiều gia đình cụt hết vốn liếng. Có khi cả ban ngày, đói quá, cọp cũng cả gan bơi lỏm ngỏm trên sông qua làng. Dân làng phải gõ chuông, đánh mỏ, đập phèn la, hò hét rầm rĩ để xua đuổi ông mãnh.
Phần phập phồng sợ, phần lo mất của, dân làng đã mấy lần báo lên tỉnh để xin giúp đỡ nhưng tỉnh đâu biết lúc nào cọp về mà cho lính canh chừng. Nạn cọp về làng là ác mộng ám ảnh người dân xóm Cồn đã kéo dài nhiều năm trong nỗi kinh hoàng.
Mãi đến khi có một thanh niên người Quảng Nam, cũng trên bước đường tha phương cầu thực, dừng bước giang hồ tại đây đã ra tay nghĩa hiệp đánh đuổi ông Ba mươi, dân xóm Cồn mới được an cư lạc nghiệp.
Trận thư hùng giữa người và cọp thường được ông già, bà lão trong xóm, sau này kể lại cho con cháu nghe. Mỗi người kể một kiểu theo cách của mình, nhưng kiểu nào, cách nào cũng đầy gây cấn, sôi nổi, và không khỏi có thêm ít nhiều gia vị mắm muối tăng theo sự ngưỡng mộ, cảm tình của mình đối với chàng thanh niên can trường lúc ấy.
Nhưng ông ngoại tôi cùng là dân Quãng Nam nhập cư vô cái xóm này từ khởi thủy, trong mình cũng có ít nhiều võ nghệ phòng thân, kể theo con mắt của người có nghề võ nên nghe có vẻ thật hơn.
Ông kể: Một ngày kia ông Ba mươi về làng giữa ban ngày để bắt heo. Mới sớm bửng, trời còn mờ tối, sương mù chưa tan hẵn trên sông, dân làng đã thấy ông mãnh đang từ bên Hố Dâu bơi qua quá nửa sông rồi. Họ xúm nhau hò hét, la ó, đánh mõ, dộng chuông, thúc trống chầu, gõ mâm đồng rầm rĩ để xua đuổi. Hình như ông mãnh đói quá nên chẳng biết sợ là gì, cứ từ từ bì bõm bơi vào bờ. Trong lúc mọi người hoảng hốt chạy tán loạn vào nhà để trốn thì chàng thanh niên tên Hồ, vừa mới đến nửa tháng trước, đang phụ việc cho ông ngoại tôi đóng ghe ở gần đó, xông đến đánh nhau với cọp. Hai bên quần nhau, cọp chờn vờn nhảy tới vồ, người lanh lẹ tài tình né tránh. Một lúc lâu, cọp vẫn không chụp được người nên gầm lên từng hồi giận dữ. Dân làng nghe tiếng cọp gầm ai nấy đều ù tai, xanh mặt. Lại càng thêm lo sợ cho chàng thanh niên, không biết có đánh nỗi cọp không? Hay là… Họ sợ không dám nghĩ tiếp.
Riêng ông ngoại tôi núp trong chiếc ghe đang đóng dang dở để theo dõi thì thấy “bộ ngựa” của chàng thanh niên tiến thoái, xoay ngang, trở dọc rất nhẹ nhàng, vững chắc, không rối loạn. Thân hình uyển chuyển, nhanh nhẹn như con sóc, lòn mình né tránh những cú vồ của cọp một cách dễ dàng. Chàng tỏ ra gan dạ và bình tĩnh lắm. Nhất là cặp mắt chàng lúc ấy sáng quắc, luôn chiếu thẳng vào mắt cọp không hở một giây phút nào. Ông ngoại tôi biết chàng thanh niên chỉ dùng trí, khôn khéo lừa miếng, kéo dài thời gian làm cho cọp mệt chứ không dùng sức đánh trả. Sức người sao sánh bằng sức thú. Sau một cú phóng tới vồ hụt nữa của cọp, chàng thanh niên lanh lẹn lòn ra sau đít cọp, nắm được đuôi ông mãnh, rồi vận hết sức bình sanh kéo ngược xuống nước. Cọp và người quần nhau, trì kéo, cứ xoay vòng tròn. Cọp không thể quay cổ lại đàng sau được. Người cứ ở đàng sau đít, nắm chặc lấy đuôi cọp mà kéo căng ra. Cả một bãi cát sát cửa sông bị cày nát như người ta cày ruộng. Cuộc chiến dằng dai cả nửa ngày trời, mặt trời lên cao, người và cọp đều mệt lữ. Dân làng ban đầu còn lấp ló trong nhà theo dõi trận đấu, lo sợ cho chàng thanh niên lỡ miếng, dần dà thấy cọp không thắng nỗi người nên ai nấy bớt lo sợ, bước hẵn ra sân đánh trống, dộng chuông, gõ mõ, gõ ống tre, tiếp tục hò hét náo động để trợ oai. Cọp xem có mòi núng thế. Phần mệt, phần đói, cọp lui dần xuống nước tính đường rút. Chàng thanh niên cũng đà mệt lã nên sút tay khỏi đuôi cọp, vội vàng phóng lên bờ cát, ngồi thụp xuống thủ thế, mắt chiếu tướng vào mắt cọp để nghinh. Người và cọp cứ nghinh nhau như thế không chớp mắt. Ông ngoại tôi kể đến đây bảo rằng trong lúc nghinh nhau để chờ ra miếng này, ai chớp mắt là bị thua ngay. Nếu người chớp mắt một cái thì bị cọp phóng tới vồ ngay. Còn cọp chớp mắt, tức khắc bị người phóng lên lưng, ôm lấy cổ bẻ gãy hoặc phóng cước đá vào hạ bộ. Yếu huyệt của cọp là hạ bộ.
Cuộc chiến diễn ra trong lặng lẽ nhưng rất căng thẳng cân não và đầy hung hiểm này tưởng chừng như vô tận thì thình lình cọp thụt lui dần xuống nước rồi quay mình bơi ra sông trở lại Hố Dâu.
Lúc ấy dân làng mới ngưng hò hét, chạy ùa đến chàng thanh niên can đảm để hoan hô. Lúc ấy chàng Hồ cũng đã đuối sức lắm rồi. Mọi người công kênh chàng vào nhà để chăm sóc. Ai nấy đều hăng, hái lăn xăng, phục vụ chàng “thiếu niên anh hùng” để tỏ lòng mến mộ, kính phúc.
Từ đó về sau ông mãnh đi nơi khác kiếm ăn chớ không dám quay đầu lại làng Xóm Cồn một lần nào nữa. Dân làng lại sống cuộc đời vui vẻ thảnh thơi như xưa.
Trong giờ giải lao, lúc ngồi tại “xưởng” đóng ghe trên bãi biển, do tò mò thôi thúc, tôi nằn nì ông ngoại kể lại chuyện ông Hồ đánh cọp đầu đuôi ra sao. Ông ngoại tôi chìu lòng thằng cháu ham nghe chuyện cổ tích hơn ham đi bắn bi, đánh đáo cùng bọn trẻ, đã vui vẻ, vừa hút thuốc phì phà, vừa nhẩn nha kể lại truyện xưa. Tôi ngồi nghe, vừa ngắm ông Hồ cũng đang ngồi uống nước trà vối, hút thuốc lá quấn sâu kèn to như ngón chân cái, cạnh đó, mắt mông lung nhìn ra biển. Trước mắt tôi ông Hồ, một ông già tuổi gần bảy mươi, thân hình ốm gầy, hình như bên trong chỉ có gân và xương được bao bọc bởi lớp da lùng nhùng bên ngoài. Lớp da này tôi thường nắm lấy ở cánh tay ông, giật giật, qua lại, lui tới để nghịch chơi một cách rất thích thú. Mỗi lần như thế ông Hồ lại nhe hai cái lợi không còn cái răng nào, cười hiền với tôi. Ý ông thầm bảo thằng chó con này nghịch ngợm quá.
Đến lúc ông ngoại tôi kể tới đoạn ông Hồ nắm đuôi cọp ra sức trì kéo xuống sông, tôi cứ tưởng tượng ra cảnh tượng ông Hồ là Võ Tòng trong truyện Thủy Hử, đánh chết cọp trong núi một cách oai dũng, bởi tôi liên tưởng tới hai cánh tay tuy rất gầy với lớp da nhăn nheo bên ngoài lại tiềm ẩn một sức mạnh vô cùng của ông Hồ, mỗi khi ông vận sức xoắn hai sợi dây thừng bằng xơ dừa, to bằng cườm tay của tôi, để néo hai đầu mãnh gổ, to và dầy cả lóng tay, chụm lại với nhau để làm thành mũi ghe. Mỗi lần thấy ông ra sức xoắn dây thừng, tiếng dây nghiến vào gỗ nghe ken két rất ghê răng, tôi lại hình dung trong trí ra hai cánh tay ấy thời ông Hồ còn trai trẻ, bắp thịt phải rắn chắc, cuồn cuộn và cứng như thép. Cho nên tôi hoàn toàn tin lời kể của ông ngoại tôi là thực. Chỉ có điều, khi tôi hỏi lại, ông Hồ chỉ cười với cái miệng móm mém không còn cái răng nào, chứ không gật hay lắc đầu.
Làng Xóm Cồn thoát được nạn cọp về phá làng được một thời gian chừng mươi năm thì lại gặp họa Bà Hỏa đến viếng. Bà Hỏa này còn ghê gớm gắp ngàn lần hơn ông Ba mươi.
Chẳng là nhờ đất lành làm ăn được, dân làng gởi thơ về xứ rủ thêm bà con vào Khánh Hòa lập nghiệp. Làng Xóm Cồn từ đó trở nên đông vui, trù phú. Nhà nào cũng có ghe, xuồng để ra khơi đánh cá. Nhà cửa được xây dựng san sát như bát úp. Hồi đó toàn là nhà lá, cột kèo bằng tre nứa, mái bằng tranh rạ. Chỉ một hai nhà giàu có, tường mới xây bằng đá san hô với vôi trộn mật đường, mái nhà lợp ngói âm dương, sân lót gạch bát tràng màu đỏ.
Vì vậy mỗi năm từ tháng 6 đến 8 Âm lịch, gió lào còn gọi là gió Nam từ bên kia dãy Trường Sơn thổi về suốt ngày đêm ào ào, nóng hừng hực như lửa, khiến cho người và vật ai nấy đều khô khốc, khô nức nẻ cả môi, thì những căn nhà lá cũng khô quắt, khô queo lại chỉ chực chờ một đóm lửa nhỏ vô ý lúc nấu bếp hay tàn thuốc vất bừa đâu đó cũng đủ gây một trận hỏa hoạn ghê trời. Mặc dù làng nằm giữa sông, biển, nước bao quanh ba bề, bốn bên nhưng không ai tài nào dập tắt được ngọn lửa trong lúc lão Thần gió cũng hùa theo thổi rầm rầm giúp sức cho Bà Hỏa tha hồ tung hoành, đốt cả xóm ra tro trong mấy khắc đồng hồ.
Tuy nhiên, với sự đoàn kết, thương nhau với tình làng nghĩa xóm, người dân chài Xóm Cồn đã cùng xắn tay áo giúp nhau vần công, giúp của, xây dựng lại đời sống mới. Bà Hỏa đến tàn hại xóm làng không chỉ một, hai lần mà nhiều lần. Nhưng sau mỗi lần như thế, dân làng lại càng quyết tâm đoàn kết hơn, thương yêu nhau hơn và việc xây đời mới càng cao hơn.
Đời sống trong làng ngày càng sung túc, thịnh vượng. Nhà ngói bắt đầu mọc lên đây đó trong xóm nhiều hơn. Con cái được ôm sách đến trường ngày càng đông. Học trò đỗ đạt thành danh với xã hội cũng nhiều.
Mỗi kỳ trăng tròn vành vạnh treo trên mặt biển thì câu hò, tiếng hát, nói thơ Lục vân Tiên theo điệu “hụ hò khoan” lại rộn ràng vang lên nhịp nhàng theo tiếng chày giả sắn, từ đầu làng đến cuối xóm, của đám trai, gái trong làng tụ tập cùng nhau giả cây sắn để lấy nước nhuộm lại lưới chài bằng chỉ sợi đã bạc màu.
Người dân Xóm Cồn sống thật giản dị, đơn sơ nhưng lạc nghiệp, âu ca trong cảnh thanh bình.
Cuộc sống tươi đẹp tràn đầy hạnh phúc như thế cứ tưởng đâu sẽ êm đềm trôi theo ngày tháng an vui.
Nào ngờ đâu ngày 30 tháng 4 năm 1975, bỗng xuất hiện một loài cọp dữ, từ phương Bắc tràn vào đã gây nên họa điêu linh, chết chóc, nhà tan cửa nát, muôn dân ly tán lầm than.
Loài cọp này được ngoại bang ở xứ Nga La Tư và Bắc Cương nuôi dưỡng, huấn luyện thành một đoàn âm binh mãnh thú để đi cướp đất nước người khác. Lũ mãnh thú này được khéo léo ngụy trang dưới lốt người. Mặt người mà dạ thú nên chúng rất hung hãn, bạo tợn, khát máu. Một số con đầu đàn còn được huấn luyện nói được cả tiếng người. Giọng lưỡi của chúng thật ngọt ngào êm tai, dấu sau những tiếng gầm rúng động cả núi rừng. Chúng được xua vào Nam và tàn sát bất cứ người hay vật nào chúng gặp trên đường đi.
Lúc đầu, loài người ở miền Nam ai ai cũng lầm cái giọng lưỡi ngọt ngào “sống chung hòa bình” ấy. Sau khi chúng lọt được vào nhà rồi thì biết ra đã quá muộn. Chúng thò nanh vuốt ra trong chớp mắt, vồ lấy gia chủ để ăn tươi nuốt sống ngay.
Chúng chiếm luôn nhà cửa để ở và xua đuổi loài người lên núi, lên rừng nơi hang ổ ngày xưa của chúng, để sống cuộc đời cầm thú.
Lịch sử xứ An Nam từ xưa đến giờ chưa có thời kỳ nào lại bị xáo trộn, lộn ngược, đảo điên ghê gớm như vậy. Thú đè đầu, cỡi cổ, cai quản loài người.
Dân chúng miền Nam đã phải bỏ hết nhà cửa, của cải, ruộng đồng… bồng bế nhau bỏ chạy ra biển, vào rừng, lên núi để tránh thoát khỏi nanh vuốt của chúng.
Làng Xóm Cồn cũng không tránh khỏi tai họa chung của loài cọp này. Nó hung dữ, sắt máu tới mấy ngàn lần hơn ông Ba Mươi bên núi Hố Dâu. Ông mãnh ở Hố Dâu chỉ năm thì mười họa mới bắt heo, dê của dân làng khi đói mà thôi. Còn loài cọp từ phương Bắc này hung ác vô cùng. Nó ăn thịt, uống máu người cả lúc không đói. Nó ăn chỉ vì bị ngoại bang huấn luyện và nhồi sọ chỉ biết hận thù giai cấp và trả thù. Bất cứ ai không cùng họ “thú” với chúng thì đều là kẻ thù. Phải nhai xương, uống máu, giết tiệt, diệt tuyệt, không chừa sót một tên.
Làng Xóm Cồn đã bị chúng cướp lấy hết đất đai để xây lên một cây cầu bắc qua xóm Bóng, rồi lấy tên của một trong những con dã thú đầu tiên là Trần Phú để đặt tên cho chiếc cầu oan nghiệt đó. Còn dân chài xóm Cồn đã phải tan tác bốn phương tìm đường lánh nạn cọp vồ.
Trước bầy cọp phương Bắc được huấn luyện thuần thục hung hãn và được chỉ huy bởi ngoại bang giỏi nghề dạy thú như thế, dù trong làng có cả trăm thanh niên dũng cảm như ông Hồ có võ đánh hổ giỏi cách mấy chăng nữa mà ở thế cô, cũng đành bó tay mà thôi.
Thương thay mà cũng oán hận thay!
Năm nay là năm Canh Dần, chính thị là năm tuổi của chúng, rất kiêng kỵ. Chúng rất có thể bị tai họa chết bất đắc kỳ tử cả đám cùng một lúc. Cầu trời được như thế cho dân lành được phận nhờ. Đã hơn 70 năm, theo lệnh ngoại bang, uống máu, ăn thịt người, xương chất cao hơn núi Trường Sơn, không biết lũ cọp phương Bắc có lúc nào nằm vắt chân lên trán, nghĩ lại cái ác, cái ngu của mình không nhỉ? Hay chúng vẫn u mê cứ tưởng mình đã lập công to thì chủ sẽ cưng chìu và luôn vỗ béo cho mình!
Nhưng chúng đâu có ngờ rằng…
Giờ đây một ông chủ nuôi dạy thú ở tận xứ Nga La Tư đã chết không kịp giãy hơn mấy chục năm rồi, chỉ còn lại một ông chủ tóc đuôi sam, bụng phệ, miệng cá mập, đang lúc sắp phá sản vì đông con quá, định mổ thịt bầy cọp nuôi bấy lâu nay, giờ đã vô dụng, để nuôi đám con đang đói giơ xương của mình.
Cái kế “tằm ăn dâu” đang được thi hành dần dần để lùa lũ cọp vào cũi cho dễ đưa vào lò sát sinh. Chăng lưới đất liền phía Bắc, bao vây mặt biển phía Đông, cưỡi lưng trên Tây Nguyên, ba mặt giáp công như thế thì bầy cọp có biết cũng khó có thể quay đầu lại cắn chủ để thoát thân.
Câu thành ngữ của ông chủ tóc tết đuôi sam là: “Thỏ trong rừng đã hết thì chó săn, chim ưng ắt phải bị mổ”.
Mộng bá chủ, nhuộm đỏ toàn cầu đã bị tan theo mây khói thì nuôi cọp làm chi nữa cho rách việc. Giờ đây thì lũ chó săn, chim ưng, cọp dữ đều sắp phải bị mổ cả.
Thật khốn nạn và đáng thương cho số phận của chúng trong những ngày sắp tới.

* * *
Bạn hỏi tôi, cái lũ cọp hung ác, cái đám chó săn, bầy chim ưng đó là hạng người nào vậy?
– Thì chính là bọn Việt cộng trong nước, lũ Việt gian và bọn trở cờ tự xưng là trí thức “Dziệt kiều iêu nước” ở hải ngoại, mới đây về quần tam, tụ ngũ ở hang Pắc Pó Mỹ Đình chớ còn ai trồng khoai đất này!
– Ra là thế!
– Bạn lại khéo ỡm ờ!

Nguyễn Thanh Ty 12/9/09

Quảng cáo/Rao vặt

2 Comments on Cọp Khánh Hòa, ma Bình Thuận

  1. Các em du sinh mến,
    Anh xin trả lời thay cho anh Thanh Ty.Vì anh biết rõ ảnh.Thanh Ty đã bị vào trại “Tập trung tẩy não” mà chế độ vc đặt tên mỹ miều là “cải tạo”để bốc 06 năm lịch với 2190 ngày “lao động khổ sai”,nhưng thiếu thực phẩm hàng ngày và không có thuốc men khi đau ốm.
    Nếu các em đang học ở Hoa Kỳ thì nên tìm hiểu cuộc nội chiến ở Mỹ.Phe Chiến thắng Bắc quân đã kèn,trống và dàn chào vị bại Tướng của Nam quân như một vị Anh Hùng và tất cả Tử sĩ của hai phe đều được chôn cất đàng hoàng trong cùng một”Nghĩa trang”,vì tất cả họ đều là công dân của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ.Ngày 30-04-1975 người cs/VN ,phi nhân đã không làm như vậy mà đã trả thù khốc liệt và tàn tệ với người thất trận.Ngày nay đã phơi bày rõ mặt tay sai của đệ tam quốc tế cs trước đây và bây giờ là tay sai của kẽ thù phương Bắc của “Tập đoàn VGCS bán nước”.
    Mến chào các em.
    Binh minh.

    Số lượt thích

  2. Cái ông Nguyễn thanh Ty này đã ờ tù chưa? Mới ra tù hay sắp đi tù đây mà kết luận hay đấy nhỉ.
    Nhóm Du sinh, một số đã học xong nhưng chưa…về.

    Số lượt thích

Góp ý, Thảo luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

%d bloggers like this: